Di sản văn hóa phi vật thể

Nghề truyền thống gác kèo ong

27/02/2023 02:06:55 PM
Màu chữ Cỡ chữ

Nghề gác kèo ong là loại hình nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian. Chủ thể văn hóa là những nghệ nhân, những người thợ theo nghề gác kèo ong cha truyền con nối ở vùng rừng U Minh Hạ, huyện Trần Văn Thời và huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ong về làm tổ trên cây kèo được gác trong khu vực rừng tràm U Minh Hạ.

Thuật ngữ “Gác kèo ong” là do các bậc cao niên trong nghề đặt tên từ rất xa xưa. Đây là một hình thức mô tả quá trình dựng nhà để dẫn dụ ong về làm tổ, tạo môi trường để con ong đến sinh sống. Kèo ong được mô phỏng theo cách thức dựng nhà, làm nhà bằng gỗ, có hai cây được cắm xuống mặt đất và một cây kèo được gác bên trên. Cây cao (dài hơn) được gọi là cây nống, cây thấp (ngắn hơn) được gọi là cây nạng và một cây được gác lên trên đầu của cây nống và cây nạn gọi là cây kèo.

Nghề gác kèo ong ra đời từ khi nào không ai biết, chỉ biết đây là nghề truyền thống lâu đời, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở xứ rừng U Minh. Gác kèo ong được biểu hiện dưới hình thức làng nghề thủ công, hiện nay là các hợp tác xã chịu sự quản lý của Nhà nước và các hộ được giao quản lý, khai thác rừng. Các thành viên hợp tác xã được giao một phần rừng để canh giữ và được gác kèo ong trên phần rừng của mình.

Quy trình thực hiện gác kèo ong bao gồm: Chuẩn bị kèo, chọn điểm gác kèo, gác kèo, kiểm tra kèo, ăn ong (lấy mật), vắt mật và bảo quản mật.

Chuẩn bị kèo: Bộ kèo gồm thân kèo, trụ đỡ (gọi là cây nống) và cây nạng. Thân kèo có chiều dài trên 2m; có thể làm bằng thân cây tràm, cây cau, cây bình bát,.... Đđặc điểm của những cây này là vỏ mỏng, nhẹ, mau khô; người gác kèo thường dùng cây tràm vì cây này lâu mục, lâu hư; cây tràm được chọn phải thẳng, có đường kính 10 - 15cm, lột sạch vỏ, phơi khô, bào láng, một đầu đục lỗ để gác vào cây nống; nếu làm bằng cây cau thì cây cau được chẻ làm hai, bào láng phơi khô và một đầu cũng đục lỗ để gác kèo. Cây nống và cây nạng thường bằng cây tràm, đường kính nhỏ hơn thân kèo, khoảng 10cm; cây nống dài khoảng 2,5 - 3m, một đầu vạt nhọn để cắm xuống đất, đầu còn lại vuốt nhỏ để gác thân kèo; cây nạng dài khoảng 1,4 - 1,6m, một đầu vạt nhọn để cắm xuống đất, đầu còn lại vạt hình lưỡi búa hay mấp để khớp với thân kèo. Cách đẽo kèo tùy thuộc kinh nghiệm của từng người mà có hình dáng khác nhau. Chức năng của kèo là gánh, đỡ các bộ phận các kết cấu liên quan và đặt biệt là nơi để con ong về làm tổ, nó còn có chức năng gánh (chịu lực) cho toàn bộ trọng lượng của tổ ong. Mỗi tổ ong có thể nặng từ 10 – 20kg tùy theo tổ ong lớn hay nhỏ.

Người thợ đốt đuốc con cúi làm bằng xơ dừa rồi thổi khói từ phía trên gió (hướng gió thổi vào tổ ong) sao cho khói bao phủ cả tổ ong để ong bay đi.

Chọn điểm gác kèo: Địa điểm gác kèo tốt nhất là nơi cây tràm thấp có nhiều bông và là những trảng trống, có ánh nắng mặt trời chiếu xuống thân kèo. Ánh sáng tốt nhất theo nguyên tắc: Hai phần nắng một phần mát vào mùa mưa và một phần nắng hai phần mát vào mùa khô. Lấy hướng mặt trời mọc làm chuẩn, chọn hướng gió thích hợp tùy theo mùa gió bấc, chướng, nồm; đầu kèo hướng về phía mặt trời mọc. Dọn trống xung quanh và phía dưới dạ kèo cho thông thoáng. Vì nếu chọn điểm gác kèo ánh nắng không tốt mưa, sương mù đọng lại trên kèo bị ẩm ướt và xung quanh kèo không dọn dẹp sạch, gió thổi các cây va chạm vào kèo, làm cho bộ kèo không được vững chắc, ảnh hưởng đến tổ ong. Khi đó, đàn ong sẽ bỏ đi tìm nơi khác làm tổ.

Từ tháng 2 trở đi chuẩn bị vào mùa gác kèo ong. Vì thời điểm này là mùa nắng, rừng khô, bông tràm đua nở tiết ra mùi hương hoa tràm, theo tập tính của ong ở đâu có hương hoa thơm là chúng kéo đến hút mật và làm tổ.

Gác kèo: Thời gian gác kèo tốt nhất là từ lúc mặt trời mọc đến 9h sáng, vì thời điểm này sẽ xác định đúng hướng mặt trời mọc. Kèo được gác theo hình mái nhà, cây nống cắm ở đầu kèo, cây nạng ở đuôi kèo; đầu kèo cách mặt đất khoảng 2 - 2,2m, đuôi kèo cách mặt đất khoảng 1,2 - 1,4m, nhưng cũng tùy theo trảng cao hay thấp mà người thợ gác kèo chọn độ dài của cây nống và nạng sao cho đảm bảo kèo bắt được ánh nắng mặt trời. Trước đây gác kèo thường che kèo cho mát nhưng sau này theo kinh nghiệm người thợ không che phủ nữa mà phải để cho ánh nắng chiếu vào kèo để kèo không bị ẩm ướt, ong dễ thích nghi và chất lượng mật cũng được tốt hơn.

Kiểm tra kèo: Sau khi gác kèo phải thường xuyên kiểm tra kèo để xem kèo nào có ong về và kèo nào không có ong về. Thời gian ong làm tổ khoảng 20 - 30 ngày nhưng cũng có người sáng gác, chiều đã có ong đóng tổ. Bí quyết và kinh nghiệm hơn nhau là ở chỗ này, nếu kèo nào gác vào buổi sáng mà chiều đã có ong về làm tổ là do nơi gác kèo có được vị trí nắng chiếu vào kèo tốt, bộ kèo vững chắc, xung quanh kèo bông tràm đang đua nở và trảng được thông thoáng, gió thổi những cành cây xung quanh không va chạm ảnh hưởng đến kèo.

Kiểm tra để tránh trường hợp kèo bị cây cối đâm vào, bị mạng nhện đóng, bị ong bầu đục hoặc bị mối ăn, bị gió thổi oặt thân kèo,... Những kèo có ong thì kiểm tra để biết thời điểm ăn ong. Dựa vào kinh nghiệm để đánh giá thời điểm ăn ong: Khi thấy tổ ong bít kín không còn lỗ nào thì có thể lấy mật. Thông thường, sau khi gác kèo và ong về làm tổ khoảng 20 ngày thì có thể lấy mật. Những kèo không có ong thì phải kiểm tra lại trảng, ánh sáng, hướng gió,... để điều chỉnh cho hợp lý.

Ăn ong (lấy mật): Để khai thác mật ong, người thợ ăn ong phải thức dậy sớm để chuẩn bị các dụng cụ để khai thác mật, thời điểm tốt nhất là sáng sớm (6 - 8 giờ). Lúc này trời còn sáng, còn sương mù, ít bị ong đốt, tránh được phần lớn rủi ro cháy rừng. Việc khai thác mật (ăn ong) có 2 mùa: Mùa ong hạn (từ tháng 11 đến tháng 5) mật nhiều tốt, tỷ lệ nước trong mật chiếm chỉ đến 27,36% và mùa ong nước (từ tháng 6 đến cuối tháng 10) mưa nhiều, tràm trổ bông lần 2, mật loãng, tỷ lệ nước trong mật chiếm chỉ đến 32,55%. Dụng cụ đi khai thác mật (ăn ong) cũng cần được trang bị đầy đủ như: Bình phun khói hoặc đuốc con cúi bằng xơ dừa, quần dài, áo dài tay, lưới trùm đầu, bao tay, dao cắt mật, thau nhôm, thùng chứa mật,...

Người thợ ăn ong tiến hành cắt phần mật, nơi ong dự trữ mật (khúc mứt).

Các bước khai thác mật (ăn ong): Người thợ đi thẳng đến tổ ong, đốt đuốc con cúi cho có khói rồi thổi khói từ phía trên gió (hướng gió thổi vào tổ ong) sao cho khói bao phủ cả tổ ong ong bay đi, dùng dao chặn giữa phần mật và phần tàng ong (nơi ong ở) cắt phần mật, nơi ong dự trữ mật (khúc mứt). Với những tổ ong có khúc mật dài, cắt thành 02 đoạn, mỗi đoạn dài khoảng 30 cm. Khi cắt mật, đường cắt thứ 1 cắt từ đầu kèo đi xuống từ trước ra sau để tách phần mật ra khỏi phần tàng ong, đường thứ 2 cắt khúc mật ra khỏi tổ ong, đường thứ 3 cắt ngang theo thân kèo nơi phần tổ ong gắn liền với kèo để cắt hẳn khúc mật ra khỏi tổ ong. Sau khi lấy mật xong cắt bớt phần tàng có màu đen, tùy theo tổ ong tròn hay dài mà cắt (cắt 1/3, cắt kiểu mỏ ké) để tàng ong thừa bảo vệ tổ ong không bị gió thổi ngã để ong tiếp tục sinh sống không tách đàn và tiếp tục phát triển sinh sản cho mật mới. Các thao tác trên được tiến hành nhanh gọn trong khoảng 2 đến 3 phút.

Một tổ ong nếu biết cách lấy mật sẽ lấy được 3, 4 lần, nếu không biết cách chỉ lấy một lần là ong bỏ đi (không tiếp tục làm tổ ở đây). Nếu thời điểm bông tràm trổ nhiều (nở nhiều), ong hút được nhiều mật thì người thợ khai thác mật (ăn ong) cắt 2/3 của ổ vào các thời điểm còn lại tùy theo bông tràm trổ nhiều ít mà cắt nhưng phải cắt hơn 1/3 của tổ ong, sau đó làm vệ sinh bụi rậm xung quanh tổ ong như lúc ban đầu, dùng dao cạo sát máng kèo nơi vừa cắt cho sạch và vệ sinh những lớp dơ, sâu đóng trên tổ. Khi lấy mật đợt hai, sau khi lấy mật cần cạo tẩy các vết đen trên thân kèo, cắt một tấm tàng ong (nơi có ong ở) hình chữ nhật khổ 20 - 25 cm x 10 - 15 cm buộc dây hai đầu cột vào vị trí đã cắt khúc mứt. Làm như vậy đến đợt thu hoạch sau tổ ong sẽ to hơn và cho mật nhiều hơn. Mỗi tổ ong trung bình cho khoảng 3 - 5 lít mật, có tổ cho đến 10 lít. Vào mùa khô mật ong nhiều và chất lượng tốt hơn mùa mưa, vì mùa mưa ong sinh con ít làm mật và lượng nước trong mật nhiều.

Trong quá trình khai thác mật (ăn ong), khi bị ong đánh (đốt) phải chạy ngược hướng gió. Việc bị ong đốt là chuyện thường xảy ra, có lúc gặp rắn độc, heo rừng thì tùy trường hợp mà có cách xử lý khác nhau. Vì thế, mỗi nhóm ăn ong thường có từ 3 người trở lên để hỗ trợ nhau.

Người thợ ăn ong dùng dao cạo sát máng kèo nơi vừa cắt phần mật cho sạch và vệ sinh những lớp dơ, sâu đóng trên tổ.

Hiện nay, một số cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn huyện Trần Văn Thời, huyện U Minh cũng xây dựng các mô hình gác kèo ong, ăn ong…cho du khách đến tham quan, trải nghiệm, khám phá hết sức thú vị.

Riêng tại Khu du lịch sinh thái Mười Ngọt (xã Khánh Bình Tây Bắc, huyện Trần Văn Thời), khi bắt đầu vào rừng ăn ong, người thợ ăn ong phải đến miếu thần rừng để làm lễ, xin phép vào rừng. Miếu thần rừng là một gian thờ nhỏ nằm bên ngã ba Lung Nổi, được dựng lên một cách đơn giản có diện tích khoảng 4m2, phía trước có bàn thờ ông thiên (hay còn gọi là bàn thờ thông thiên). Bên trong có một bệ thờ được đặt lên trên đó là một chiếc lư cắm hương và bình cắm hoa, không có bài vị. Vật phẩm cúng thần rừng thường là một vài con rắn nước hoặc con cá lóc, cá trê nướng; một ít muối ớt; hoa quả.

Mật ong rừng tràm U Minh Hạ là đặc sản riêng có của đất Cà Mau và nổi tiếng với chất lượng tốt nhất không nơi nào sánh được. Chỉ có loài ong hút mật hoa tràm trắng vàng mới có thể cho loại mật màu vàng trong vắt với mùi hương hoa tràm dịu nhẹ và vị ngọt tinh khiết như mật ong rừng U Minh Hạ. Xưa kia, khi rừng U Minh Hạ còn rộng lớn, trữ lượng mật ong rất nhiều, hàng năm trên 1.000 tấn. Hiện nay, diện tích rừng U Minh Hạ ngày càng thu hẹp dần nên sản lượng mật ong cũng theo đó giảm xuống. Sản lượng của 2 hợp tác xã (19/5 và Vồ Dơi) hiện nay đạt khoảng 4.500 lít/năm (tương đương 5,5 tấn/năm). Các công trình nghiên cứu khoa học cho thấy mật ong ngoài giá trị dinh dưỡng cao còn có nhiều công dụng trong y học như trị mụn nhọt, chữa lành vết thương, sát trùng, diệt khuẩn, chữa các bệnh về dạ dày,... Ngoài ra, mật ong, sáp ong còn dùng làm mỹ phẩm dưỡng da, làm đẹp,... Vì vậy, mật ong rừng U Minh Hạ được đa số người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng. Tổ ong không chỉ cho mật mà còn cho các sản phẩm khác như sáp ong dùng để làm đèn cầy, ong non dùng chế biến các món ăn: Tàng ong non chấm mật, nấu cháo, gỏi ong non, tàng ong non lăn bột chiên, mắm ong…

Gác kèo ong là nghề đặc trưng của vùng rừng U Minh Hạ. Nó không chỉ tạo ra các sản phẩm vật chất mà còn lưu lại dấu ấn của các bậc tiền nhân. Họ đã để lại cho đời một nghề nghiệp hết sức độc đáo; để lại cho con cháu một sản phẩm tinh thần đặc sắc về cuộc sống nơi “xứ sở lạ kỳ”, đó là những kinh nghiệm, những tri thức quý báu được tích lũy từ cuộc sống hàng ngày, thể hiện tính sáng tạo và thích nghi với môi trường trong quá trình khai hoang mở cõi. Hiện nay, nghề gác kèo ong được tỉnh tổ chức thành 2 hợp tác xã nghề (19/5 và Vồ Dơi…) và các hộ kinh doanh khác theo định hướng phát triển bền vững của tỉnh: Vừa khai thác thực hành nghề gác kèo ong, vừa thực hiện nhiệm vụ trồng rừng, bảo vệ rừng.

Mật ong rừng U Minh Hạ là đặc sản riêng có của đất Cà Mau và nổi tiếng với chất lượng tốt nhất không nơi nào sánh được.

Nghề gác kèo ong đã tồn tại hàng trăm năm và vẫn còn lưu truyền trong các gia đình theo nghề. Việc truyền nghề hiện nay vẫn chủ yếu là cha truyền con nối trong gia đình, vì vậy nếu không có các chính sách khuyến khích việc truyền nghề rộng rãi thì nguy cơ thất truyền rất cao và nghề gác kèo ong cũng không thể nào phát triển rộng và trở thành sản phẩm kinh tế đặc trưng của huyện và tỉnh. Hơn nữa, diện tích rừng ngày càng thu hẹp, hệ sinh thái đang bị đe dọa bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Kho tri thức bản địa cũng dần dần mai một theo sự thu hẹp của rừng. Nghề gác kèo gắn với rừng tràm, nếu rừng tràm không còn thì nghề gác kèo cũng mất.

Hiện nay, theo các thợ gác kèo ong cho biết có khoảng 150 người theo nghề và truyền nghề cho các con cháu trong gia tộc; có khoảng 10 gia đình theo nghề từ 2 – 3 thế hệ, riêng tại ấp 1, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh đã có đến 04 gia đình theo nghề từ 2 – 3 thế hệ.

Ngày 20/12/2019, Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ký Quyết định số 4613/QĐ-BVHTTDL về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đối với Tri thức dân gian, nghề thủ công truyền thống Nghề gác kèo ong, huyện U Minh, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

NT

Các tin khác

  • (14/09/2023)
  • (22/02/2023)
  • (08/02/2023)
  • Trang đầu 1 Trang cuối